Kỹ thuật Inbuilding-IBS (Inbuilding Solution) - KIẾN THỨC VIỄN THÔNG <!--%IFTH1%0%-->- HỆ THỐNG VIỄN THÔNG-MẠNG MÁY TÍNH<!--%IFEN1%0%--> - Thế Giới Số - Viễn Thông 05: Tin tức công nghệ & Diễn đàn| Tuyển dụng
Thứ tư, 23-04-2014, 6:47:16
Welcome Khách | Registration | Login

VIỄN THÔNG 05-KẾT NỐI SỨC MẠNH

Site menu
Catalog categories
KIẾN THỨC VIỄN THÔNG [6]
KIẾN THỨC MẠNG [2]
Login form
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:
Search
Site friends
Statistics

Số người đang xem: 42
Khách: 30
Thành viên: 12
pacdffgsvdrrlp , OCreecewernhokgwd , kfgfdhdtgu , pacdffgsvdrxsp , pndoarglz , memiStarene , ljdwefdsyrozcf , ljdedseyropfg , kfgsdddynf , ljdwefdsyrogxn , ljdwefdsyrormd , btnnchwo31
Tag Board

Thế Giới Số

Main » Articles » HỆ THỐNG VIỄN THÔNG-MẠNG MÁY TÍNH » KIẾN THỨC VIỄN THÔNG

Kỹ thuật Inbuilding-IBS (Inbuilding Solution)
1)IBS (Inbuilding Solution) là gì?
IBS là giải pháp thiết kế nâng cao trong tòa nhà, cải thiện chất lượng phủ sóng di động nhằm duy trì ổn định cuộc gọi của những thuê bao trong trong môi trường tòa nhà cao tầng .

2)Cấu trúc của một IBS

Hệ thống inbuilding bao gồm 3 phần chính là: nguồn tín hiệu, hệ thống phân phối tín hiệu và phần tử bức xạ. Trong đó hệ thống phân phối tín hiệu là điểm khác biệt điển hình giữa hệ thống inbuilding so với hệ thống mạng BTS outdoor macro thông thường.

a)Nguồn tín hiệu

- Để phủ sóng cho inbuilding ta có thể dùng:
Nguồn tín hiệu bằng trạm outdoor:
Đây là giải pháp đơn giản nhất để cung cấp vùng phủ cho các toà nhà với tín hiệu từ các trạm macro bên ngoài toà nhà. Giải pháp này được khuyến nghị nếu lưu lượng trong tòa nhà không cao, hoặc chủ tòa nhà không cho phép lắp đặt thiết bị và đi cáp trong tòa nhà hoặc việc triển khai giải pháp dành riêng cho nó không kinh tế. Khi đó vùng phủ được cung cấp bằng cách:
- Tín hiệu sẽ thâm nhập vào toà nhà từ bên ngoài. Điều này chỉ thực hiện được đối với các tòa nhà có khoảng hở lớn đối với bên ngoài hoặc ít tường, cửa sổ kim loại.
- Đặt BTS trên các tòa nhà xung quanh và hướng anten tới tòa nhà cần phủ. Khi đó không cần đến hệ thống phân phối tín hiệu nữa và phần tử bức xạ chính là anten của trạm BTS outdoor macro đó.
Ưu điểm của giải pháp này là chi phí thấp, không mất nhiều thời gian trong triển khai, có thể phủ cả ngoài nhà (outdoor) và trong nhà (indoor). Nhược điểm của giải pháp này là vùng phủ hạn chế, tốc độ bit thấp đối với các dịch vụ dữ liệu, dung lượng thấp và chất lượng không thể chấp nhận được ở một số phần trong toà nhà. Suy hao tăng dần khi tần số càng cao, do vậy khó cung cấp vùng phủ cho toà nhà mức tín hiệu tốt. Suy hao có thể khắc phục bằng cách tăng công suất từ các trạm outdoor nhưng nhiễu sẽ tăng. Việc thiết kế tần số gặp nhiều khó khăn do quỹ tần số hạn hẹp (nhất là đối với các nhà khai thác chia sẻ chung băng tần GSM).
Ngoài cách phủ sóng inbuilding bằng trạm outdoor ta có thể sử dụng trạm lặp (repeater) làm nguồn vô tuyến cung cấp cho hệ thống phân phối. Khi đó vùng phủ của trạm outdoor hiện có được mở rộng. Nhưng giải pháp này ít được sử dụng trong thực tế vì cường độ tín hiệu, chất lượng, sự ổn định, dung lượng phụ thuộc vào trạm BTS donor và việc thiết kế cho trạm lặp (quỹ đường truyền, mức độ cách ly 2 hướng) mặc dù giá thành thấp, triển khai nhanh, dễ dàng.
Vì có nhiều nhược điểm nói trên nên trên thực tế rất ít nhà cung cấp dịch vụ di động sử dụng giải pháp này, trừ trường hợp bất khả kháng.
Nguồn tín hiệu bằng trạm indoor dành riêng:
Giải pháp này có thể tăng thêm dung lượng cho những vùng indoor yêu cầu lưu lượng cao. Vấn đề chính ở đây là cung cấp dung lượng yêu cầu trong khi vẫn đảm bảo vùng phủ tốt của toà nhà mà không làm ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ của mạng BTS outdoor macro. Vì vậy giải pháp này được các nhà cung cấp dịch vụ di động sử dụng chủ yếu không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác trong khu vực: Singapo (hãng Singtel), Malaysia (hãng Digi)...
Ưu điểm: nguồn tín hiệu donor ổn định, mức tín hiệu tốt, mở rộng dung lượng hệ thống dễ dàng. Nhược điểm: giá thành cao, yêu cầu phải có cách bố trí tần số/kênh cụ thể và xây dựng hệ thống truyền dẫn đảm bảo tính mỹ thuật.

b) Hệ thống phân phối tín hiệu

- Hệ thống phân phối tín hiệu có nhiệm vụ phân phối tín hiệu từ nguồn cung cấp đi đến các anten hoặc phần tử bức xạ khác và được phân loại thành:
Hệ thống thụ động:
Hệ thống thụ động là hệ thống anten được phân phối bằng cáp đồng trục và các phần tử thụ động. Đây là giải pháp phổ biến nhất cho các khu vực phủ sóng inbuilding không quá rộng, có đặc điểm:
- Trạm gốc được dành riêng cho toà nhà. Tín hiệu vô tuyến từ trạm gốc được phân phối qua hệ thống đến các anten. Vùng phủ cho toà nhà được giới hạn đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng mạng BTS outdoor macro. Nhưng yêu cầu kỹ sư thiết kế phải tính toán quỹ đường truyền cẩn thận vì mức công suất ở mỗi anten phụ thuộc vào sự tổn hao mà các thiết bị thụ động được sử dụng, đặc biệt là chiều dài cáp.
- Các thiết bị chính gồm: cáp đồng trục, bộ chia (splitter/tapper), bộ lọc (filter), bộ kết hợp (combiner), anten.
Hệ thống chủ động:
Hệ thống chủ động là hệ thống anten phân phối sử dụng cáp quang và các thành phần chủ động (bộ khuếch đại công suất). Việc sử dụng cáp quang từ BTS tới khối điều khiển từ xa có thể mở rộng tới từng vị trí anten riêng lẻ bằng cách: tín hiệu RF từ BTS được chuyển đổi thành tín hiệu quang rồi truyền đến và được biến đổi ngược lại thành tín hiệu RF tại khối điều khiển từ xa trước khi được phân phối tới một hệ thống cáp đồng nhỏ. Ngoài ra, hệ thống còn sử dụng các thiết bị khác trong việc phân phối tín hiệu: Hub quang chính, cáp quang, Hub mở rộng, khối anten từ xa.

c) Phần tử bức xạ
- Phần tử bức xạ có nhiệm vụ biến đổi năng lượng tín hiệu điện thành sóng điện từ phát ra ngoài không gian và ngược lại. Do hệ thống inbuilding được sử dụng ở những khu vực có vùng phủ sóng đặc biệt như đã nói ở trên nên đối với từng công trình cụ thể đòi hỏi phải có phần tử bức xạ thích hợp. Cụ thể:
Anten: sử dụng thích hợp với những vùng phủ có khuynh hướng hình tròn hoặc hình chữ nhật. Đó là vì anten cho vùng phủ sóng không đồng đều, việc tính quỹ đường truyền phụ thuộc nhiều vào cấu trúc của toà nhà. Có 2 loại anten thường được sử dụng là anten vô hướng (omni) và anten có hướng (yagi). Anten vô hướng có tính thẩm mỹ, nhỏ gọn dễ lắp đặt nên có thể kết hợp hài hoà với môi trường trong toà nhà, còn anten có hướng có độ tăng ích cao thích hợp khi phủ sóng trong thang máy.
Cáp rò: Đặc điểm của cáp rò (còn gọi là cáp tán xạ) là có cường độ tín hiệu đồng đều theo một trục chính nên thường được dùng cho các vùng phủ phục vụ kéo dài đặc biệt như: hành lang dài, xe điện ngầm, đường hầm...

Anten Omni được sử dụng trong hệ thống IBS
http://dientuvienthong.ucoz.net/VienThong/In_building/Bulb-Omni-Antenna.jpg

Các anten được bố trí trong tòa nhà
http://dientuvienthong.ucoz.net/VienThong/In_building/DAS_building.png Nguồn: http://www.4tech.com.vn 

3) Sơ đồ hệ thống
- Một hệ thống IBS có sơ đồ như sau:
BTS --->Hybrid Combiner (hoặc POI) --->Feeder --->Amplifier---->Feeder---->Anten
Tín hiệu từ trạm BTS sẽ được cho qua bộ ghép kết hợp
+Bộ ghép kết hợp( Hybrid Combiner ): Có tác dụng kết hợp từ 2 nhà khai thác mạng dùng chung một hệ thống.
+ Đối với những tòa nhà lớn phải dùng Amlifier để khếch đại tín hiệu (đồng nghĩa với việc nếu Amplifier không tốt sẽ khếch đại cả nhiễu).
+ Sau khi qua Feeder cable sẽ dẫn đến hệ thống anten ở các tầng của tòa nhà.

4) Lợi ích khi sử dụng hệ thống Inbuilding

- Phủ sóng toàn bộ tòa nhà để các thuê bao có thể thực hiện cuộc gọi không bị giãn đoạn.
- Tối ưu hóa thiết kế về kinh phí thiết bị sử dụng và khả năng phủ sóng.
- Tránh phủ sóng ra ngoài phạm vi tòa nhà để giảm thiểu khả năng nghẽn mạng ngoài ý muốn.
- Hệ thống In Building là một hệ thống độc lập không phụ thuộc vào hệ thống outdoor bên ngoài nên việc sử dụng hệ thống này bảo đảm tính bền vững ổn định chất lượng vùng phủ sóng cho tòa nhà
- Hệ thống có khả năng tích hợp tất cả các mạng đang sử dụng trên toàn quốc như cùng một lúc có thể dùng chung các mạng như Vinaphone, Mobifone,Viettel…trên một hệ thống Inbuilding đã lắp trước, có khả năng linh hoạt thay đổi cấu hình, nâng cấp cấu hình bảo dưỡng mạng

5) Các thiết bị tích cực và thụ động được sử dụng trong hệ thống

- BTS, Micro BTS.
- Antenna: omni, sector , yagi.
- Feeder cable: 1/2”, 7/8”
- Coupler
- Connector
- Power Splitter: 1 in 2 out, 1 in 3 out, 1 in 4 out.
- Jumper Wire
- Combiner
- Attenuator
- Termination Loads
- Line Amplifier
- Repeater Nguồn: http://www.4tech.com.vn  

(Sưu tầm)


Existing solutions for monitoring in-building coverage

Source: AttoSense

Three types of in-building coverage solutions exist in the market: Passive, Active, and Hybrid.

The figure below shows a typical in-building coverage system for a building. One signal source feeds the distributed antenna system (DAS).

http://dientuvienthong.ucoz.net/VienThong/In_building/DAS_building.png

The following table compares the three solutions.



Passive

Active

Hybrid

Media

Coax cables

Fiber optic and CAT5

Fiberoptic and CAT5 + Coax

Upgrade to multi-service system

No additional cost to the DAS

DAS replacement

DAS replacement

Active components

No

In the main hub and near
each antenna

In the main hub and near
each floor

Management

No

Exists

Partial

Cost

Low

High

Medium

Installed systems

85%

5%

10%

Category: KIẾN THỨC VIỄN THÔNG | Added by: AYENL (18-08-2009) | Author: Unknown
Views: 4386 | Comments: 1
Total comments: 1
0
1 AYENL   (13-10-2009 1:08:23)
2G to 3G in-building coverage migration path

The paper describes the operator alternatives when moving from 2G in-building deployment to 3G in-building deployment.

90% of existing deployments inside buildings are for 2G systems and only 10% are for 3G deployments. New deployments are 90% for 3G and 10% for 2G. This is the 2G–to–3G migration path that most GSM cellular operators are dealing with today.

When the operator would like to migrate from 2G to 3G there are two choices, to replace the all in-building system with an active one, or to use the existing passive Distributed Antenna System (DAS) while adding the 3G signal to the one point signal source.

The Active system is a more costly solution. However, the existing solution doesn’t support remote diagnostics.

In the world of 3G, quality of service inside buildings is as critical to wireless revenue as network performance on the open road. Therefore, remote diagnostics inside buildings are vital for cellular operators.

Source: atto-sense



Only registered users can add comments.
[ Registration | Login ]